Một số cong thức kem nền cơ bản
Công thức DIY

Một số công thức bào chế kem nền cơ bản

Dạng nhũ tương

Sản phẩm nền nhũ tương dạng lỏng hoặc dạng kem được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, trong đó dạng lỏng thì rất phổ biến ở Mỹ.

Nền nhũ tương có thể là kiểu dầu trong nước hoặc nước trong dầu với phẩm màu, chất phân tán và chất hỗ trợ tạo nhũ tương nằm trong pha ngoại.

Các chất giữ ẩm tự nhiên hay tổng hợp được thêm vào pha dầu để tạo độ trơn và độ bám phù hợp cho sản phẩm trong quá trình sử dụng, đồng thời đóng vai trò như chất nền cho phẩm màu và chất làm đầy trong công thức.

Hàm lượng phẩm màu sử dụng trong kem nền dạng nhũ tương từ 10-16%, trong đó hàm lượng titanium dioxid sẽ quyết định độ che phủ cho sản phẩm.

Hàm lượng titanium dioxid trong kem nền có tone màu sáng hoặc trung bình là giống nhau nhưng với tone màu tối thì ít hơn vì talc thường gây hiện tượng “trắng bệt” sau khi thoa. Talc hay những chất độn khác sẽ được nghiền mịn để đảm bảo độ phân tán tốt nhất, đồng thời được sử dụng để duy trì hàm lượng thành phần khô ở mức cố định vì phẩm màu sẽ dùng để điều chỉnh màu cho sản phẩm.

Chất độn chuyên dụng được thêm vào để cải thiện cảm giác khi thoa hoặc tạo hiệu ứng khuếch tán ánh sáng như chuỗi những hạt silica hình cầu hoặc titanium dioxid được bao bọc. Một lượng nhỏ chất hấp thụ như nylon hoặc fumed silica trong pha nước hoặc pha dầu sẽ cải thiện lớp nền nhờ vào khả năng hấp thụ bã nhờn trên da.

Một số công thức kem nền cơ bản
Một số công thức kem nền cơ bản

Nhũ tương dầu trong nước

Nhũ tương D/N dạng anionic (thường có phân tử bề mặt tích điện âm) sẽ dễ bào chế hơn dạng cationic hoặc nonionic. Nhiều phẩm màu và chất độn mang điện tích âm ở pH gần 7, vì vậy trong hệ anionic, lực đẩy lẫn nhau giữa các hạt dầu, phẩm màu và gum sẽ giữ cho hệ ổn định trong suốt thời gian bảo quản và sử dụng.

Kem nền dạng cationic được bào chế bằng cách phân tán các hạt màu vào trong nước và từ từ điều chỉnh pH đến giá trị thấp hơn điểm đẳng điện của những phẩm màu này. Khi hạt màu đạt đến điểm đẳng điện, sự kết tụ sẽ diễn ra do lực đẩy tĩnh điện bị suy giảm. Tại một pH cố định thấp hơn 5, phẩm màu và chất độn tích điện dương và phân tán trở lại. Một khi đạt được sự phân tán ở pH thấp, chất nhũ hóa cationic có thể được thêm vào hệ để tạo thành nhũ tương mà không gây ra sự kết tụ nào.

Vì kem nền là sản phẩm khi sử dụng sẽ lưu lại trên da, dùng mỗi ngày, chất nhũ hóa trong công thức phải thật dịu nhẹ với nồng độ thấp nhất có hiệu lực để tránh gây quá mẫn hay kích ứng da.

Những thành phần khác và chất nhũ hóa nên có một ít mùi hương để hạn chế việc sử dụng thêm hương liệu. Sự kết hợp chất diện hoạt anionic và nonionic thường cho độ ổn định tốt nhất mà lượng chất nhũ hóa sử dụng thấp nhất.

Thêm vào đó, những nguyên liệu dạng sáp tạo được mạng lưới tinh thể lỏng như alcol béo, glyceryl ester hay acid béo thừa đóng vai trò như chất nhũ hóa thứ cấp, giúp ổn định hệ và điều chỉnh độ nhớt. Trong nhiều năm, hệ xà phòng chứa triethanolamine (TEA) stearate, isostearate hoặc oleate được sử dụng như chất nhũ hóa sơ cấp trong nền của hơn 90% kem nền dạng nhũ tương trên thị trường.

Vì nỗi lo ngại khả năng gây ung thư của một số amin, một số nhà bào chế không sử dụng amin mà thay bằng xà phòng kali hoặc phosphate trung hòa bằng kali hydroxid ít tan, ít hiệu quả hơn để làm chất nhũ hóa sơ cấp.

Trong 2 công thức mẫu có sử dụng một cặp chất nhũ hóa nonionic như polysorbate 80 và sorbitan monooleate, sử dụng kết hợp với TEA stearate/isostearate hay sucrose cocoate/sorbitan monolaurate.

Công thức 1

Sản phẩm nền có độ che phủ trung bình, thích hợp với da thường

Thành phần %
Nước khử khoáng 54,58
Lecithin 0,05
Polysorbate 80 1,00
Triethanolamine 99% 1,00
80% titanium dioxid và 20% talc độn 10,00
80% sắt oxid độn và 20% talc độn 2,50
Talc 1,50
Propylen glycol 4,00
Magnesium aluminum silicate 1,00
Propylen glycol 2,00
Cellulose gum 0,12
Methyl paraben 0,20
Propylen glycol dicaprylate/dicaprate 10,00
Isocetyl stearate 6,00
Acid stearic 0,50
Glyceryl stearate 1,50
Sorbitan oleate 1,25
Propylparaben 0,10
Diazolidinyl urea 0,20
Nước khử khoáng 1,00
100,00

Quy trình thực hiện:

Phối hợp nước, lecithin và polysorbate 80, vừa khuấy vừa đun nóng đến 70oC. Thêm pha màu vào khi đang khuấy. Phối hợp glycol và Mg Al silicate và thêm vào hỗn hợp trên. Tiếp tục đun nóng đến 85-90oC trong 15 phút, vừa đun vừa khuấy đều. Làm nguội đến 75-80oC. Thêm glycol và cellose gum vào hỗn hợp. Sau cùng thêm paraben vào.

Phối hợp pha dầu, đun nóng đến 77-82oC khi đang khuấy. Khi cả 2 pha đều đã đồng nhất, thêm pha dầu vào pha nước đồng thời khuấy đều để tiến hành tạo nhũ tương. Duy trì nhiệt độ và tốc độ máy khuấy trong khoảng 15 phút. Làm nguội đến 45oC với chiều khuấy ngược lại. Thêm nước và diazolidinyl vào hỗn hợp, trộn đều.

Công thức 2

Lớp nền nhẹ với độ che phủ tự nhiên, phù hợp da thường và da dầu

Thành phần %
Nước khử khoáng 54,46
Dimethicone copolyol 0,10
80% titanium dioxid và 20% talc độn 9,00
80% sắt oxid vàng và 20% talc độn 0,75
80% sắt oxid đỏ và 20% talc độn 0,42
80% sắt oxid đen và 20% talc độn 0,07
Talc nghiền mịn 1,76
Kali cetyl phosphate 1,50
Butylen glycol 4,00
Magnesium aluminum silicate 1,00
Butylen glycol 2,00
Cellulose gum 0,14
Sucrose cocoate 1,50
Methyl paraben 0,20
Disodium EDTA 0,05
Propylen glycol dicaprylate/dicaprate 6,00
Cetyl alcol 1,25
Sorbitan laurate 2,50
Propylparaben 0,10
Cyclomethicone (D5) 12,00
Nước khử khoáng 1,00
Diazolidinyl urea 0,20
100,00

Quy trình thực hiện:

Phối hợp nước và dimethicone copolyol, thêm pha màu vào khi đang khuấy và đun nóng đến 70oC. Thêm kali cetyl phosphate, trộn đều trong khoảng 15 phút, tránh tạo bọt khí. Trộn glycol và Mg Al silicate và thêm vào hỗn hợp. Đun nóng đến 85-90oC trong 15 phút, vừa đun vừa khuấy đều. Làm nguội đến 75oC. Phối hợp cellulose gum và glycol sau đó thêm vào hỗn hợp. Khi đồng nhất hóa thì thêm những thành phần còn lại của pha nước vào.

Phối hợp pha dầu, trừ cyclomethicone, đun nóng đến 75-80oC. Khi hỗn hợp đã đồng nhất thì thêm cyclomethicone. Điều chỉnh nhiệt độ về 75-80oC. Thêm pha dầu vào pha nước khi đang đồng nhất hóa. Duy trì nhiệt độ và sự khuấy trộn trong khoảng 15 phút. Làm nguội đến 45oC với chiều khuấy ngược lại. Hòa tan diazolidinyl urea vào nước và thêm vào hỗn hợp, khuấy đều đến nguội (30oC).

Tóm lại

Để đảm bảo những sản phẩm ở thể chất lỏng giữ được thể chất khi bảo quản thời gian dài, đa phần chất diện hoạt sử dụng phải đạt trạng thái lỏng ở nhiệt độ phòng, chất diện hoạt rắn sẽ được dùng cho dạng kem.

Các loại dầu giữ ẩm thì lại rất đa dạng, dầu dùng trong kem nền dạng nhũ tương phải không gây mụn và không bị thủy phân khi gặp nước. Những ester có độ nhớt thấp như neopentyl glycol dicaprylate/dicaprate, isostearyl neopentanoate hay propylene glycol dicaprylate/dicaprate được sử dụng để tạo sự lan tỏa và giữ ẩm trong công thức dành cho da thường và da dầu. Cyclomethicone – một silicone dễ bay hơi – vừa tạo độ trơn nhờn và tăng độ bám cho lớp trang điểm, đồng thời hợp chất này sẽ bay hơi dần sau khi thoa để tránh làm lớp phấn quá dầu. Nồng độ cao các loại dầu và ester phân tử lượng lớn như isostearyl stearoyl stearate, diisopropyl dimer dilinoleate hay pentaerythrityl tetraisostearate được thêm vào công thức để cung cấp ẩm cho da khô và tạo một lớp màng phim bảo vệ trên da.

Chất ổn định thường sử dụng nhất trong pha nước là Mg Al silicate phối hợp với các keo bảo vệ như cellulose gum hay xanthan gum. Khoáng vật sét cùng với gum tạo nên mạng lưới keo để treo các hạt phẩm màu trong hỗn dịch và tránh pha dầu bị“nổi bông” (di chuyển lên bề mặt).

Những thành phần khác thường được thêm vào công thức là chất hút ẩm (glycol) để tăng khả năng lan tỏa, kéo dài thời gian bám và hỗ trợ bảo quản. Với phẩm màu, nhà bào chế có thể sử dụng thêm chất làm ướt để tăng độ phân tán trong hỗn dịch. Những chất bảo quản thường dùng gồm có paraben, phenoxyethanol, chất phóng thích formaldehyd (bị cấm ở Nhật Bản), benzyl alcohol…

 

Đọc thêm: Kem nền và phấn nền

Nguyễn Phượng
Follow me